Thứ Năm, 22 tháng 3, 2012

TRUYỆN NGẮN


1. Chung riêng - Nga Miên
Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên…
Uống chung một ly rượu mừng, chụp chung tấm ảnh... cuối cùng khi tiễn em ra cửa, anh nói: " Anh là chú rễ còn em là khách mời. Từ nay, hai đứa sẽ không còn có gì chung nữa, anh giờ là riêng của người ta…". 

2. Bàn tay
Hai đứa cùng trọ học xa nhà, thân nhau. Lần vào quán nước, sợ tôi không đủ tiền trả em lòn tay xuống gầm bàn đưa tôi ít tiền. Vô tình đụng tay em... mềm mại. Ra trường, hai đứa lấy nhau. Sống chung, em hay than phiền về việc xài phí của tôi. Bận nọ tiền lương vơi quá nửa đem về đưa em... chợt nhận ra tay em có nhiều vết chai. 
Tự trách, bấy lâu mình quá vô tình.

3. Vòng cẩm thạch - Jang My
Cha kể, cha chỉ ao ước tặng mẹ chiếc vòng cẩm thạch. Tay mẹ trắng nõn nà đeo vòng cẩm thạch rất đẹp. Mỗi khi cha định mua, mẹ cứ tìm cách từ chối, lúc mua sữa, lúc sách vở, lúc tiền trường… Đến khi tay mẹ đen sạm, mẹ vẫn chưa một lần được đeo. Chị em hùn tiền mua tặng mẹ một chiếc thật đẹp. Mẹ cất kỹ, thỉnh thoảng lại ngắm nghía, cười: 
- Mẹ già rồi, tay run lắm, chỉ nhìn thôi cũng thấy vui. 
Chị em không ai bảo ai, nước mắt rưng rưng.

4. Ngậm ngùi
Ba mất nửa năm, má dẫn hai con nhỏ về quê. Xin được mảnh đất hoang, cùng mần cỏ, dọn nền, lối xóm lạ hoắc tới tiếp dựng mái lá ở tạm. Tối, má gói bánh – nấu. Sáng, hai nhỏ út bưng bán. Má mượn xuồng đi chợ, áo thâm kim, nón lá rách. 
Anh Hai ở Sài Gòn, thành đạt, giàu. Hôm về quê, anh đi dọc bờ sông, má thấy, bơi xuồng riết theo, goi tên con hụt hởi. Anh ngoái nhìn rồi quay mặt đi tiếp. Má tủi, gạt dầm, cúi mặt khóc. Nước mắt má làm xuồng
quay ngang!

5. Tết - Phạm Thiên Phú
Ngồi một mình trong căn phòng chung cư ở tầng 15, anh đón Tết một cách lặng lẽ. Ở nơi này vẫn có bánh chưng, bánh tét, vẫn có pháo, có hoa nhưng hình như vẫn thiếu một thứ gì đó. 
Đã 35 cái Tết tha hương nhưng hình như trong anh vẫn còn tìm kiếm, dẫu rằng sự tìm kiếm đó ngày càng nhạt nhòa theo năm tháng. Phải chăng ‘thứ ấy’ là hương vị Tết quê nhà?
“Phải đi ngủ sớm thôi” Anh tắt đèn tự nhủ, “Mai còn phải đi làm…”

6. Nghĩa tình - Nguyễn Quang Lâm
Bố bị tai biến mạch máu não, nằm liệt giường. Em phải xin nghỉ việc để về nhà phụ mẹ chăm sóc bố. Hơn năm sau, bố mất. Em lại phải đi làm xa kiếm tiền gởi về cho mẹ trả nợ nần, thuốc men. Mãi bươn chải vì chén cơm manh áo, hơn ba mươi tuổi vẫn chưa lập gia đình.
Anh hai giục mẹ bán nhà ra ở với ảnh, có dâu có cháu cho vui tuổi già. Ngày về căn nhà ngày xưa đã đổi chủ, em chỉ còn biết khóc.

7. Bóng nắng, bóng râm


 Con đê dài hun hút như cuộc đời. Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm. Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con.
Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên, kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố.
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng: sao nắng, râm đều phải vội ?
Trời vẫn nắng, vẫn râm...
...Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: đời, lúc nào cũng phải nhanh lên.

8. Câu Hỏi  - Nguyễn Hoài Thanh
Ngày đầu tiên cô phụ trách một lớp học tình thương đa phần là những trẻ lang thang không nhà cửa. Cuối buổi học.
- Cô ơi. Dạy tụi con hát đi cô.
- Hát đi cô.
Còn mười phút. Nhìn những cái miệng tròn vo và những đôi mắt chờ đợi, cô dạy cho tụi trẻ bài "Đi học về".
- Hát theo cô nè... Đi học về là đi học về. Con vào nhà con chào ba mẹ. Ba mẹ khen...
Phía cuối lớp có tiếng xì xào:
- Tao không có ba mẹ thì chào ai?
- ...
Cô chợt rùng mình, nghe mắt cay cay.
9. Ba và Mẹ - Lê Mai
Mẹ xuất thân gia đình trí thức nghèo, yêu thích thơ, văn. Ba tuy cũng được học nhưng là con nhà nông “chánh hiệu”. Mẹ sâu sắc, tinh tế. Ba chất phác, hiền hòa.
Mỗi khi ba mẹ đấu lý, chị em nó thường ủng hộ mẹ, phản đối ba. Mẹ luôn đúng và thắng. Hôm ba bệnh nặng, cả nhà lo lắng vào ra bệnh viện. Tối ba nói sảng điều gì đó không ai hiểu. Nhưng lần đầu tiên nó nghe mẹ nói “Đúng! Ông nói đúng…” Quay đi, mẹ sụt sùi. Nó thút thít khóc.
10. Tình Đầu - Hứa Vĩnh Lộc
Về quê, lần nào cũng vậy, hễ chạy qua ngã ba An Lạc là tôi cho xe chạy chậm hẳn lại, mắt nhìn vào ngôi nhà khuất sau vườn lá. Một lần, đứa con trai mười tuổi của tôi hỏi:
- Ba tìm gì vậy?
- Tìm tuổi thơ của ba.
- Chưa tới nhà nội mà?
- Ba tìm thời học sinh.
- Nội nói, lớn ba học ở Sài Gòn mà?
- À, ba tìm người... ba thương.
- Ủa, không phải ba thương mẹ sao?
- Ừ, thì cũng ... thương.
- Ba nói nghe lộn xộn quá. Con không biết gì cả.
- Ba cũng không biết.
Chỉ có Hồng Hạ biết. Mà Hạ thì hai mươi năm rồi tôi không gặp.
11. Bão – Nga Miên
Sống miền duyên hải, công việc của anh gắn liền với tàu, với biển, với những chuyến khơi xa. Anh đi suốt, về nhà chẳng được bao ngày đã tiếp tục ra khơi. Mỗi lần anh đi chị lại lo. Radio, ti vi báo bão. Đêm chị
ngủ chẳng yên, sợ bão sẽ cuốn anh ra khỏi đời chị. Cuộc sống khá hơn, anh không đi biển nữa mà kinh doanh trên bờ. Anh đi sớm về trễ, có đêm vắng nhà, bảo vì công việc làm ăn. Nhưng nghe đâu... Không phải bão, anh vẫn bị cuốn xa dần. Sóng gió, bão trong lòng chị.
12. Khóc – Bùi Phương Mai
Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.
Năm 20 tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.
Hôm nay 40 tuổi, đọc tin mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc, anh nói:
- Tội nghiệp mẹ, 40 năm qua chắc mẹ còn khổ tâm hơn anh.
13. Đánh Đổi - Song Vũ
 Chị yêu anh vì vẻ lãng mạn và coi thường vật chất. Chị xa anh cũng vì lẽ đó. Nhân chứng của cuộc tình là chiếc xe đạp, nó chở đầy kỷ niệm của một thời yêu nhau. Mười năm xa cách, anh lao vào cuộc mưu sinh và có một gia sản ít ai bằng.
Tình cờ anh gặp chị tại nhà, nhìn thấy chiếc xe đạp ngày xưa, chị hỏi:
- anh còn giữ nó? Anh nghẹn ngào: anh làm ra những thứ này mong đánh đổi những gì anh có trên chiếc xe đạp ngày xưa.
14. Mẹ tôi - Nguyễn Thánh Ngã
 Mẹ sinh tôi giữa ruộng bùn vì lúc có mang tôi cũng là lúc gia đình lâm vào túng quẫn, mẹ đi cấy thuê lặn lội đồng sâu nước độc nên sinh tôi thiếu tháng. Tôi ốm đau èo uột. Mẹ thường cõng tôi qua sông đến nhà thầy thuốc. Tôi khỏe. Nhưng mẹ phải còng lưng ba năm trời để trả nợ. Lớn lên tôi định bỏ học đi làm sớm. Mẹ quyết nhịn ăn bắt tôi đến trường. Mẹ là tấm gương soi suốt đời tôi.
15. Túi khoai thối – unknown
Thử hình dung những cơn giận dữ của ta như những củ khoai, mỗi lần giận là bỏ vào túi một củ, ngày càng nhiều và chúng dần thối đi. Nếu không biết bỏ qua lỗi lầm của người khác, cứ giận họ mãi thì với ta chẳng lợi ích gì, họ cũng chẳng vì ta giận họ mà mập hay ốm đi, còn ta khác nào phải mang theo túi khoai vừa thối vừa nặng. Nếu biết bỏ qua, ta sẽ có nhiều bạn, không còn phiền lòng vì túi khoai thối ấy.
16 .CHUYỆN CÁI VÉ
Một người cha dắt đứa con 6 tuổi đi sở thú chơi. Đến quầy bán vé, người cha dừng lại đọc bảng giá:
"Người lớn: $10.00, Trẻ em trên 5 tuổi: $5.00, Trẻ em dưới 5 tuổi: Miễn phí"
Đọc xong, ông nói với người bán vé:
- Cho tôi 1 vé người lớn và 1 vé trẻ em trên 5 tuổi.
- Con ông trên 5 tuổi à? – Người bán vé tò mò hỏi lại.
- Vâng.
- Nếu ông không nói cho tôi biết thì thằng bé được miễn phí rồi.
- Vâng, có thể không ai biết, nhưng con tôi tự nó biết.
17. Ba…
Học lớp 12, tôi không có thời gian về nhà xin tiền ba như 2 năm trước. Vì thế, tôi viết thư cho ba rồi ba đích thân lên đưa cho tôi. Từ nhà đến chỗ tôi trọ học chừng 15 km. Nhà nghèo không có xe máy, ba phải đi xe đạp. Chiếc xe gầy giống ba… Cuối năm, làm hồ sơ thi đại học, tôi lại nhắn ba. Lần này, sau khi đưa cho tôi một trăm ngàn, ba hỏi:
- "Có dư đồng nào không con?".
Tôi đáp:
- "Còn dư bốn ngàn ba ạ".
Ba nói tiếp:
- "Cho ba bớt hai ngàn, để lát về, xe có hư như lần trước thì có tiền mà sửa".
Ba về, tôi đứng đó, nước mắt rưng rưng.
18 .Mẹ và con
Con lên ba, chơi bên nhà dì, bị xe đạp ngã, trúng đầu chảy máu. Mẹ đang nấu cơm, hốt hoảng bế con chạy ngay đến bệnh viện. Hú vía. Vết thương chỉ nhẹ bên ngoài thôi. Hoàn hồn, mẹ nhìn lại mình: chân không
dép, quần ống cao ống thấp, áo loang lổ vết máu. Chả giống ai! Mẹ cười.
Con lớn, mẹ bỗng bị chứng nặng tai. Lần lữa mãi, mẹ mới nhờ con đưa đi khám bệnh. Bác sĩ bảo: Để quá lâu, hồi phục thính lực cũng khó. Nhìn mặt mẹ ngơ ngẩn, con khóc.
19. Anh
Năm 18 tuổi, anh quyết định nghỉ học đi phụ hồ. Bố mẹ giận dữ, mắng "Sanh ra… giờ cãi lời bố mẹ…phải chi nó ngoan, siêng học như bé Út…" Anh lặng thinh không nói năng gì…Bố mẹ mắng mãi rồi cũng thôi. Anh đã quyết thế!
Ngày bé Út vào Đại học, phải xa nhà, lên thành phố ở trọ. Anh tự ý bán đi con bò sữa -gia tài duy nhất của gia đình-, gom tiền đưa cho bé Út. Biết chuyện, bố thở dài, mẹ lặng lẽ, Út khóc thút thít…Anh cười, "Út
ráng học ngoan…"
Miệt mài 4 năm Đại học, Út tốt nghiệp lọai giỏi, được nhân ngay vào công ty nước ngoài, lương khá cao… Út hớn hở đón xe về quê… Vừa bước chân vào nhà, Út sững người trước tấm ảnh của Anh trên bàn thờ nghi ngút khói…Mẹ khóc, "Tháng trước, nó bị tai nạn khi đang phụ hồ… lúc hấp hối, biết con đang thi tốt nghiệp, nó dặn đừng nói con biết…"
20 . Cua rang muối
Khi xưa nhà còn nghèo, mẹ hay mua cua đồng giả làm cua rang muối. Cua đồng cứng nhưng mẹ khéo tay chiên giòn, đủ gia vị nên thật ngon. Thấy các con tranh nhau ăn, mẹ nhường. Các con hỏi, mẹ bảo: răng yếu. Giờ, các con đã lớn, nhà khá hơn, chúng mua cua biển gạch son về rang muối mời mẹ. Các con nói vui:
- Cua rang muối thật đó mẹ.
Rồi chúng ăn rất ngon. Riêng mẹ không hề gắp. Các con hỏi, mẹ cười móm mém: 
- Còn răng đâu mà ăn?!
21 .Xa xứ
Em tôi học đến kiệt sức để có một suất du học. Thư đầu viết: "ở đây, đường phố sạch đẹp, văn minh bỏ xa lắc nước mình…"Cuối năm viết:mùa đông bên này tĩnh lặng, tinh khiết như tranh, thích lắm…" Mùa đông sau viết: "em thèm một chút nắng ấm quê nhà, muốn được đi giữa phố xá bụi bặm, ồn ào, nhớ chợ bến xôn xao lầy lội… Biết bao lần trên phố, em đuổi theo một người châu Á, để hỏi coi có phải người Việt không…"
22. Đi thi
Chị Hai thi đệ thất. Ba thức dậy từ tờ mờ chở chị đi trên chiếc xe đạp cũ. Chị Hai đậu thủ khoa. Má bảo: “Nhờ Ba mày mát tay”. Từ đó, lần lượt tới anh Ba rồi cô út – cấp II, cấp III, tú tài, đại học – Đứa nào
cũng một tay Ba dắt đi thi. Giờ cả ba đều thành đạt.
…Buổi sáng, trời se lạnh, Ba chuẩn bị đi thi “Hội thi sức khỏe người cao tuổi”. Má nhìn Ba ái ngại: “Để tôi gọi taxi. Tụi nhỏ đều bận cả”. Buổi tối, má hỏi: “Ông thi sao rồi?”. Ba cười xòa bảo: “Rớt!”
23. THỊT GÀ
Tạnh mưa, bọn trẻ bưng cơm đứng ăn trước cửa. Tý khoe:
- Nhà Tý ăn thịt gà.
Đêm đó, bà Tám, nhà láng giềng, chửi:
- Mả cha nó, nghèo mạt kiếp tiền đâu ăn gà, nó ăn gà bà, nó chết bất đắc.
Ông giáo buồn lắm, ngã bệnh, qua đời. Thương tình, hàng xóm lo ma chay. Tý hớn hở vì nhà nó đông vui.
Trời đổ mưa. Thằng Tý la lớn:
- Con gà vô nhà, dậy bắt làm thịt mẹ ơi.
Mọi người nhìn theo. Thì ra, một con ếch dưới kẹt tủ đang giương mắt nhìn lên quan tài ông giáo.
24. Chỉ có một người thôi
Người đến dự đám cưới khá đông. Ông hàng xóm gọi bác làm công đến và bảo:
- Này, anh đi xem xem có bao nhiêu người đến dự đám cưới bên ấy.
Bác làm công ra đi. Bác để lên ngưỡng cửa một khúc gỗ và ngồi lên bờ tường đợi khách khứa ra khỏi nhà. Họ bắt đầu ra về. Ai đi ra cũng vấp phải khúc gỗ, văng lên chửi và lại tiếp tục đi. Chỉ có một bà lão vấp
phải khúc gỗ, liền quay lại đẩy khúc gỗ sang bên.
Bác làm công trở về gặp người chủ. Người chủ hỏi:
- Ở bên ấy có nhiều người không?
Bác làm công trả lời:
- Chỉ có mỗi một người mà lại là bà lão.
- Tại sao vậy?
- Bởi vì tôi để khúc gỗ bên thềm nhà, tất cả đều vấp phải, nhưng cũng chẳng ai buồn dẹp đi. Thế thì lũ cừu cũng làm như vậy. Nhưng một bà lão đã dẹp khúc gỗ sang bên để người khác khỏi vấp ngã. Chỉ có con
người mới làm như vậy. Một mình bà lão là người.
vtt(st)
»» xem thêm

Thứ Năm, 15 tháng 3, 2012

Thú ăn, chơi quái dị của người Việt

 

ANTĐ - Kim cương, vàng, ngọc trai, đá quý... thì ai cũng biết vì sự phổ biến và “nổi tiếng” của chính nó. Nhưng khi chúng bỗng dưng trở thành... nguyên liệu chính cho liệu pháp làm đẹp độc đáo và đắt tiền thì nghiễm nhiên chỉ thuộc về giới đại gia. thú chơi đã thế, các thú ăn lại còn quái dị hơn khi giới có tiền thể hiện đẳng cấp bằng cách ăn óc khỉ, bào thai rắn và còn nuốt cả mắt đại bàng.
Chơi kiểu... "độc"

Truyền thuyết kể lại rằng - Nữ hoàng Cleopatra - một trong những nhân vật nổi tiếng nhất thời cổ đại để duy trì một làn da mịn màng, khỏe mạnh đã đắp mặt nạ bằng vàng mỗi đêm. Người ta tin thế và phương pháp làm đẹp này đã hiện hữu trong cuộc sống với tính năng cải thiện tính đàn hồi và làm giảm các dấu hiệu lão hóa của da. Cụ thể toàn bộ khuôn mặt sẽ được phủ kín bởi một lớp mặt nạ vàng 24 carat và gamma PGA - một loại đậu tương Nhật Bản. Trên thế giới, với gần 500 USD cho một lần làm đẹp, đây thực sự là “cuộc chơi” chỉ dành riêng cho giới lắm tiền. Ở Việt Nam, dịch vụ cao cấp đắp mặt nạ bằng vàng đã xuất hiện với chi phí gần 2 triệu đồng/lần. Để dán kín vàng cho một khuôn mặt sẽ mất khoảng trên 20 lá vàng 24k, với giá bán khoảng 5 USD/lá… Trong thời buổi khó khăn do nền kinh thế giới đang khủng hoảng, báo chí phương Tây, trong đó có hãng tin Reuters của Mỹ đã đề cập và phục sát đất thú chơi “ngông” mà xưa chỉ dành cho Nữ hoàng còn nay là người Việt (?!)

Chưa hết, trong dược điển Trung Hoa, bột ngọc trai được xếp vào một trong các loại thuốc dưỡng da quý hiếm hàng đầu trong hoàng cung. Theo sử sách lưu truyền, khi xưa, Võ Tắc Thiên, Dương Quý Phi, Từ Hy Thái hậu… đều sử dụng phương thức kỳ bí và huyền diệu từ bột ngọc trai để làm đẹp. Và thú làm đẹp này thu hút một lượng khách hàng lắm tiền trong thời bão giá với chi phí dịch vụ trọn gói lên đến hàng triệu đồng. Trên thế giới, những thú ăn chơi xa xỉ đều đã có, và sự xuất hiện của những loại hình dịch vụ này chỉ được tính bằng thời gian chứ tiền không còn là vấn đề đáng quan tâm.

Đó là các viên kim cương giá từ 1 triệu USD trở lên sẽ được đặt lên đường viền trên sống lưng, nhẹ nhàng dùng để massage nhằm nới lỏng nút thắt trong các mô. Dạng kim cương bột 1,5 carat sẽ được trải đều trên da nhằm thanh lọc các chất độc của cơ thể. Với liệu pháp này, khách hàng phải móc hầu bao tới hơn 20.000USD/lần. Xếp sau là dịch vụ massage bằng dây chuyền đá quý gồm hồng ngọc, ngọc bích, ngọc lục bảo… sẽ được chà lên cơ thể cùng với các loại dầu với mục đích lấy lại được cân bằng tinh thần (?) Giá cho 90 phút massage như vậy, khách hàng phải chi mức giá gần 300 USD. Và nếu theo đà của nhu cầu của người giàu, những thú “chơi” như xóa nếp nhăn bằng mặt nạ trứng cá muối (liệu trình làm đẹp sẽ kéo dài 3h, bắt đầu bằng 1 viên kim cương và kết thúc với một mặt nạ trứng cá muối cùng liệu pháp ánh sáng đèn LED) có trị giá 750 USD/lần; tắm trong nước băng và mật ong; massage sử dụng cốc hút chân không nóng; massage bằng rắn; massage các ngón chân bằng cá chép không răng… sẽ có mặt tại Việt Nam trong tương lai không quá xa.

Ăn phải... "lạ"


Cái câu đã chơi thì phải ăn, mà đã ăn thì phải chơi ngẫm đi nghiệm lại vẫn thấy đúng. Đã bàn đến cái thú chơi… “độc” mà thiếu luận kiểu ăn… “lạ” của giới nhà giàu thì quả thật thiếu sót. Đối với người nghèo, được một bữa “ăn tươi” đã là xa xỉ, nhưng đối với người giàu thì hết đỗi bình thường. Hẳn người Thủ đô chưa quên bát phở bò Kobe giá 700.000-800.000 đồng hiện. Khi ấy, sự xa xỉ chỉ còn là một khái niệm hết sức trừu tượng làm lu mờ những giá trị ăn no, ăn ngon bởi người ta chỉ quan tâm đến việc thưởng thức thịt con bò lạ ở tỉnh Hyogo của Nhật Bản, được nuôi dưỡng cầu kỳ bằng việc cho bò ăn toàn những thức ăn bổ dưỡng như ngô non, lúa mạch, uống bia thay nước, được tắm nước nóng, nghe nhạc Mozart, Chopin, Beethoven để thư giãn, hàng ngày được massage bằng rượu Sake hảo hạng… Một tuần đôi, ba lần ăn sáng bát phở bò Kobe hết gần vài triệu, kể cho người nghèo nghe chuyện nhà giàu ăn sáng khác nào chuyện cổ tích.

Khi tiền đã không còn là mối bận tâm thì việc chi 2.500 USD để thưởng thức một con rùa vàng vẫn được cho là đạm bạc. “Tiệc rùa vàng” xa hoa là một bữa tiệc cực “độc” bởi chỉ có giới đại gia mới đủ kinh tế để dự tiệc. Mỗi con rùa vàng nhỏ bằng cái bát con, tục truyền rằng chúng là loài vật sống trên đại ngàn nên hấp thụ linh khí của đất trời nên máu thịt tinh khiết, ăn vào đại bổ, ai có bệnh tim nếu uống rượu mật rùa, huyết rùa sẽ thuyên giảm(?).

Nhân đang bàn đến cái chuyện ăn vào đại bổ, sự xa xỉ của người giàu còn được thể hiện đẳng cấp, chịu chơi và lạ đang âm thầm diễn ra tại Việt Nam bằng việc cho vàng lá lung linh vào trong rượu để uống với giá dao động từ 2 triệu - 7 triệu/chai. Làm đẹp bằng vàng, uống vàng, theo quy luật “hơn thua” khắc sẽ có ăn vàng, bởi người giàu cho rằng ăn vàng sẽ tốt cho sắc đẹp, sức khỏe. Điển hình nhất là mỗi dịp Tết Trung thu về, người ta đã nghĩ ra cách cho nguyên miếng vàng vào trong nhân, hoặc tán nhuyễn ra thành bột để trộn vào nhân bánh với mức giá 2-3 triệu đồng/chiếc. Không ít người vì cái thú ăn phải… “lạ” của bản thân đã mua bụi vàng 24 carat cho vào thức ăn nhằm tăng cường sức khỏe, săn chắc da, bổ sung khoáng chất… (?); mà theo khảo cứu trong lịch sử y văn không hề nhắc đến giá trị dinh dưỡng trong vàng. Theo nhận định của giới chuyên môn, vàng là kim loại nặng, cơ thể không thể hấp thụ vàng, vậy nên cái thú chơi xa xỉ ăn vàng, uống vàng để hiện “đẳng cấp” xem ra chuyện chỉ có ở người giàu Việt Nam.

Hà Nội bây giờ không thiếu những địa chỉ xa xỉ chỉ dành riêng cho giới lắm tiền nhiều của. Họ đến và “vung” tiền để thể hiện đẳng cấp thượng lưu bằng những món đắt nhất từ khai vị trải dài cho đến tráng miệng được niêm yết giá trong menu toàn bằng USD. Với những tên gọi mỹ miều: súp vây cá tổ yến hồng xíu thượng hạng, súp tổ yến gạch cua, súp bào ngư Nam Phi, súp tổ yến tiềm hạnh nhân, bào ngư Mexico, tôm hùm, cháo đầu tôm, ốc vòi voi Canada… - tròm trèm trên dưới 20 triệu đến hàng trăm triệu đồng cho một lần làm “thượng đế” đặc biệt chốn xa xỉ. Có lẽ chưa thời nào mà các món sơn hào hải vị chỉ dành cho bậc vua chúa thời xưa nay lại đại chúng đến như vậy. Thế nên người ta mới ví von về cái sự ăn chơi của người giàu phức tạp theo cái kiểu sáng ở đồng bằng (ăn phở bò Kobe), trưa thì xuống biển (thưởng thức hải sản tu hài Mexico, tôm hùm, ốc vòi voi Canada…), chiều lại lên rừng (dự tiệc rùa vàng) và khi đêm về cái thú điểm tâm cho ấm bụng trước khi ngủ sẽ là bào ngư Nam Phi sốt xì dầu hay súp tổ yến gạch cua…

Ăn “lạ”, uống “độc” đã nghiễm nhiên tồn tại trong một bộ phận người giàu, một phần là cách để để họ thể hiện “đẳng cấp”, khẳng định “thương hiệu”, phần khác bởi sở thích xa xỉ hóa cái thú thưởng thức tiêu dao vì quá nhiều tiền, còn lại không ít trong số đó là những kẻ “tiêu tiền chùa” tha hồ mà “vung”…

Đúng là không muôn “lạ” vạn “độc” chưa phải thú ăn - chơi của người giàu! Khi chết mà con người ta vẫn muốn thể hiện đẳng cấp của mình thì đúng là không còn chuyện gì để bàn. Thời nay, nhiều người lắm tiền nhiều của thuộc bậc đại gia còn định giá cái chết của mình trước bằng việc chơi… quan tài… nghìn USD. Một cỗ bằng gỗ giáng hương chạm khắc rồng phượng, hoa văn cộng thêm việc dát vàng trên nắp có giá 1.000 - 2.000 USD; đẳng cấp hơn nữa là quan tài bằng gỗ pơ-mu, gỗ sưa ngót nghét hàng trăm nghìn USD/cỗ.

Nhìn những người ăn tiêu một cách thiếu hiểu biết mà trộm nghĩ tới đám sinh viên nghèo với bữa đói, bữa no trong thời bão giá; đến những người nông dân chân lấm tay bùn quanh năm lẫm lũi với ruộng đồng. Chính sự xa xỉ của một bộ phận người sẽ đào thêm hố sâu ngăn cách về phân cấp giàu nghèo, và khi sự xa xỉ được định danh nhằm phân biệt “thương hiệu”, “đẳng cấp”, “tầng lớp trên” sẽ thay đổi hoàn toàn thước đo, tiêu chuẩn mới về giá trị con người.

Cũng đã có không ít kiểu ăn chơi… tàn nhẫn một cách quái dị được truyền thông và dư luận lên án. Đó là óc khỉ, tay gấu, bào thai rắn, mắt đại bàng… được các đại gia “quý tộc” lựa chọn trong những món ăn được truyền tai là “bổ âm, kích dương, tốt tứ tung”. Mất nhân tính là món ăn “óc khỉ”, thời Từ Hy Thái Hậu đã dùng để chiêu đãi các sứ thần, đến nay nó cũng nằm trong danh sách các món ăn lạ của người giàu. Óc khỉ phải được ăn sống, người ta khoét một lỗ trên mặt bàn ăn, chiếm diện tích bằng 1/3 đầu con khỉ nhô từ dưới lên. Thực khách sau khi yên vị với các gia vị đi kèm, đến giờ “hành quyết”, “đao phủ” sẽ cầm dao sắc lẹm phạt một đường chỗ mỏm đầu con khỉ nhô lên. Khách sẽ dùng thìa múc óc tươi ăn trước khi con khỉ từ từ chết.


Từ óc động vật người ta chuyển sang ăn bào thai động vật hoang dã theo cái nghĩa càng quý càng hiếm như thỏ, hươu, nai, lợn rừng, gấu… Trong đó rắn lục sắp đến kỳ “khai hoa nở nhụy” là “đẳng cấp” số 1. “Đao phủ” bằng cái vẩy tay trái nhanh như chớp mắt tóm gọn đầu con rắn lục, tay phải dùng dao nhọn phạt đứt đuôi con rắn, dòng máu đỏ được “chắt” vào từng ly rượu. Thêm một lần đưa dao, bộ lòng tung ra, trái tim con rắn được tách ra, thoi thóp đập trên đĩa, túi mật xanh lét được đánh giá là tinh túy nhất của con rắn được lấy ra cho vào một cốc rượu to. Nhát dao thứ ba xiên thẳng vào bào thai con rắn mẹ, những con rắn lục con chưa đủ tháng ngày nằm chiễm chệ trên đĩa, quằn quại. Ly rượu màu đỏ, ly rượu màu xanh được các đại gia khai màn, trái tim rắn được thả vào ly rượu khác rất nhanh trôi tuột vào bụng thực khách. Tiếp sau, các con rắn lục con nằm gọn trên từng đôi đũa, thực khách nhúng qua nồi nước dùng sôi sùng sục…, và thế được gọi là bổ dương (?) Ăn thịt, uống máu, nuốt mật chưa đủ, với cái lý lẽ ăn gì bổ nấy, giới lắm tiền nhiều của đã tìm mua mắt đại bàng - chúa tể của bầu trời - để ăn cho… sáng mắt long lanh, bổ thấu trời xanh. Loại đại bàng được các đại gia ưa chuộng phải có trọng lượng từ 1kg trở lên, ăn phải lúc nó còn sống, đến giờ “hành quyết”, chú đại bàng được cột chặt đôi chân, hai sải cánh, con dao nhọn sẽ được khoét sâu vào hốc mắt xoáy tròn để móc lấy mắt. Sau khi lấy xong, “đao phủ” mới dùng cái chày đạp vỡ sợ cho con đại bàng chết hẳn rồi mang đi chế biến. Đôi mắt đại bàng sẽ được hầm cách thủy để đại gia… “thưởng thức”… Đến nay chẳng biết những công năng thần hiệu của óc khỉ, mắt đại bàng, bào thai rắn… thế nào, nhưng những người lắm tiền vì thỏa cái sự “độc”, “lạ”, “bổ” của bản thân mà mất hết nhân tính, đáng bị lên án.
Đoan Trang
»» xem thêm

Thứ Hai, 5 tháng 3, 2012

KHÔNG CÓ THÌ GIỜ

Người ta phỏng vấn một bà già gần 90 tuổi rằng nếu được sống lại cuộc đời đã qua một lần nữa, bà sẽ sống như thế nào?
-“Nếu được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa  thì tôi sẽ dám… phạm nhiều sai lầm hơn. Tôi sẽ ngờ nghệch hơn là tôi đã ngờ nghệch trong cuộc đời này. Tôi sẽ thảnh thơi hơn, linh hoạt hơn. Tôi sẽ coi ít thứ nghiêm chỉnh hơn. Tôi sẽ trèo núi lội đèo nhiều hơn, bơi lội nhiều hơn…Tôi sẽ ăn nhiều…kem hơn. Dĩ nhiên tôi sẽ gặp nhiều rắc rối hơn nhưng tôi sẽ thực tế hơn là chỉ mơ mộng. Tôi sẽ bớt…lành mạnh hơn. Ôi, tôi đã có những khoảnh khắc của đời mình và tôi muốn có nhiều hơn những khoảnh khắc đó, cái nọ nối cái kia, cái nọ tiếp cái kia thay vì tôi cứ sống để chờ đợi…Nếu tôi được sống lại cuộc đời đã qua lần nữa, tôi sẽ đi chân không nhiều hơn, sẽ bớt mang theo dù và dầu nóng, bình thủy các thứ…Tôi sẽ hái nhiều hoa cúc hơn…”.
Thỉnh thoảng có lẽ ta cũng nên tự hỏi mình một câu như vậy. Có phải ta cũng thường sống trong nhớ tiếc hoặc đợi chờ, mà quên đi cái quà tặng quý báu của cuộc sống chính là sự hiện diện của ngày hôm nay, của giây phút này, ở đây và bây giờ...
Tiếng Anh có một từ khá tuyệt, “present” vừa có nghĩa là hiện tại, sự hiện diện, có mặt, lại vừa có nghĩa là món quà. Ta nghe nơi này nơi khác người ta luôn nói, “không có thì giờ”, “không có thì giờ”... Đến nỗi một nhà thơ phải kêu lên:
…Không có thì giờ!
Chim lấy đâu mà về tổ
Tôi lấy đâu mà làm thơ
Em lấy đâu mà đọc những bài thơ tôi sắp viết!
(Nguyên Sa)

Tiếng chim và khế ngọt vẫn có đó, ánh nắng và sóng biển vẫn có đó, đèo cao và suối mát vẫn có đó, nhưng…hãy đợi đấy, còn phải dành thì giờ để nhớ nắng hôm qua, mưa năm nọ, tiếng chim ngày cũ, rồi còn dành thì giờ để mong ngóng tương lai, sống trong tương lai như cô nàng Perrette mang bình sữa ra chợ! Ta chờ… ta lớn lên, Chờ thi đậu, Chờ thành đạt, Chờ có tiền, Chờ làm nhà, Chờ cưới vợ, Chờ đẻ con, Chờ con lớn… Chờ con thi đậu ...
Cứ thế. Cho đến một hôm thảng thốt:
“Rồi tàn mùa xuân, rồi tàn mùa hạ, một ngày đầu thu…”
(Trịnh Công Sơn)
Mùa xuân sao không đi hái lộc, mùa hạ sao không đưa bầy em nhỏ đi tắm sông? “Hạnh phúc rất đơn sơ”, vậy mà Khổng Tử suốt đời quần quật chỉ mong được thế đôi lần!
Quả thật chúng ta thường sống với dĩ vãng, một thời đã qua hoặc sống với tương lai, một thời chưa tới. Còn hiện tại thì tối tăm mặt mũi; không có thì giờ! Không kịp ăn sáng, không kịp tắm (không kịp thay đồ?). Hộc tốc. Luôn luôn hộc tốc. Nhai ngồm ngoàm. Đi vội vàng. Thở hổn hển. Và làm hùng hục…
Lâm Ngữ Đường hơn nửa thế kỷ trước đã chê người Mỹ có ba cái tật xấu là luôn muốn tăng hiệu năng, muốn đúng giờ và muốn thành công. Ông nói: “Họ luôn cau có và quạ quạu vì ba cái tật đó đã cướp đi của họ sự thư nhàn, lại còn làm cho họ luôn bị căng thẳng thần kinh vì luôn cầu toàn bị trách! Viên chủ bút Mỹ lo bạc đầu vì muốn không có một lỗi in nào trong tạp chí của ông ta, còn viên chủ bút Trung Hoa (dĩ nhiên, cách đây hơn nửa thế kỷ!) khôn hơn, để cho độc giả có cái thú tìm ra được ít nhiều lỗi trên báo! Đời sống bây giờ biến người ta thành cái…đồng hồ. Người Mỹ sống như một học sinh tiểu học, giờ nào việc đó, từng giờ từng phút “. Rồi ông kêu lên: Đời sống mà như vậy thì còn giá trị gì nữa (Sống đẹp, LNĐ, bản dịch Nguyễn Hiến Lê).
Ngày nay thì các “tật xấu” đó đã toàn cầu hoá, đã trở thành bệnh của thời đại, đến nỗi bây giờ người ta bị cao huyết áp, bị tim mạch, bị trĩ, bị bón….cũng vì không có thì giờ!
Nguyễn Công Trứ nói: So lao tâm lao lực cũng một đàn
Người trần thế muốn nhàn sao được?
Ý ông là chỉ có tiên mới sướng. Nhưng bây giờ ta cũng có tiền rồi, mà có tiền thì mua tiên cũng được quá đi chứ. Tiện nghi ngày càng cải thiện. Đằng vân giá võ, thiên lý nhãn, thuận phong nhĩ, thần giao cách cảm không thiếu thứ gì! Bấm cái nút gặp ngay người trong mộng. Trò chuyện với người cách xa nửa vòng trái đất như đang ngồi trước mặt…
Thế mà vì sao ta không được “sướng như tiên”? Có lẽ là do cái nhu cầu giả tạo cứ ngày càng dày đặc thêm, cứ nhồi nhét mãi rồi thì đến một lúc tưởng là nhu cầu thật. Đẻ con thì phải đẻ mổ, chọn giờ để mong sau này con được làm quan. Ai cũng làm quan cả thì ai sẽ là thường dân cho vua quan trị vì? Nhưng quan đâu chẳng thấy chỉ thấy nhiều trẻ thiếu oxy não, liệt thần kinh, bị tâm thần… Các thứ sữa dành cho trẻ con bây giờ thì phải có chất tạo… thông minh. Làm như xưa nay không có các sản phẩm đó thì thế giới chỉ toàn người ngu dốt!
Cho nên Tô Đông Pha mới buông thuyền sông Xích Bích, Bạch Cư Dị mới xuống ngựa dừng chèo ở bến Tầm Dương, và Nguyễn Công Trứ mới… mơ ước:
Năm ba chú tiểu đồng lếch thếch
Tiêu dao nơi cùng cốc thâm sơn
Nào thơ nào rượu nào địch nào đờn
Đồ thích chí chất đầy trong một túi…
Và bây giờ “đồ thích chí” ta còn có thể chất đầy “trong một xe” đời mới, chỉ “không có thì giờ!” thôi vậy! BS. Đỗ Hồng Ngọc
Vtt(st)
»» xem thêm

Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012

ĐÀN ÔNG SỢ GÌ? (sắp ngày tám tháng 3)


Van Cong Hung 
Đời này đàn ông không sợ vợ mới lạ. Bình đẳng rồi nhé, tôi cho con bú thì ông giặt đồ nhé, đừng có tí tởn nhá, cưỡng lại hả, nhẹ thì bạo hành như bao nhiêu vụ báo chí đã đăng, thậm chí là cắt, xẻo, nặng hơn thì "cúp" vài thứ, mặt cứ sưng lên, hoặc thút thít khóc, hoặc ra đầu ngõ nằm giãy đành đạch la làng la nước... Nào có sợ không? Có gã nhìn trước nhìn sau rồi nói thầm: Cọp còn sợ, beo còn sợ, huống gì... vợ. 



Tôi đã không nhịn được cười khi nhận câu hỏi trên từ một biên tập viên của một tờ báo. Chắc chắn một trăm người thì 99 anh có vợ buột mồm nói ngay là sợ... vợ, anh còn lại trả lời là để về hỏi... vợ xem có cho nói không đã. Tất nhiên bọn đàn ông chưa vợ thì không chấp, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, chưa vợ biết quái gì mà chen vào đây?
Thế nhưng vấn đề là tại sao đàn ông thời nay lại sợ vợ đến thế?
Nên nhớ thời ông cha ta, dẫu còn khó khăn vất vả, dẫu phong kiến lạc hậu, dẫu u mê đói khổ, dẫu tứ bề vẫn chỉ lũy tre, dẫu không anh tẹc nét guai phai (internet wifi), dẫu không phở vuông hai bốn, không viagra không amakong không Minh Mạng thang... nhưng các cụ ông là oách lắm. Trước hết là các cụ được phép và hùng dũng lấy... nhiều vợ. Mà không phải tự các cụ nhé, bà cả phải đội lễ đi hỏi bà hai, rồi cả hai bà đi rước bà ba, rồi cứ thế tuần tự có khi đến... 7 bà, thế mà cấm có thấy trong nhà ỏ ê điều tiếng gì, răm rắp quân lệnh như sơn. (Cụ nhà văn Sao Mai khi ngồi viết văn còn có cả hai cụ bà cầm đuốc hai bên đứng soi cho cụ viết, một cụ quạt, và cứ im thin thít như thể trong nhà không có... cụ nào). Bữa ăn, các cụ ông ngồi khoanh chân trên phản, dẫu chả có gì chỉ cơm với cà chan nước mưa vẫn một mình một mâm, may lắm có cậu ấm được ngồi hầu. Cụ nhẩn nha ăn, cụ nhẩn nha nói, các bà vợ kính cẩn nghiêm trọng cúi đầu lĩnh ý. Việc trong nhà, chưa có ý kiến cụ đố đứa nào dám hó hé, và việc gì cụ đã quyết thì không ai được cãi, cứ là răm rắp nhé. Tối ngủ, cụ cho bà nào "hầu" mới được chứ không phải giành nhau hoặc trốn tránh như vợ thời nay nhé.
Rồi chúng ta thấy thế thì... bất công quá, không được, cương quyết không được, phải đánh đổ tư tưởng phong kiến thối nát ấy, phải vùng lên, phải bình đẳng, phải bình quyền, phải tôn trọng phụ nữ, phải phải và phải...
Để rồi hôm nay.
Bạn tôi, một gã kỹ sư rất hoành tráng, quần là áo lượt, nhưng trong túi luôn luôn không bao giờ có... tiền. Đơn giản vì là có đồng nào thì vợ đã giữ hộ hết với tư tưởng: Đàn ông biết gì, ra đường là lơ ngơ lắm, bị bắt nạt, bị lừa gạt, cứ đưa hết đây, cần gì vợ mua cho (thực ra lý do giữ tiền nó sờ sờ ra đấy nhưng ai cũng giả vờ... không biết). Kể ra thì vợ cũng sắm cho đầy đủ thật, dù lương cả hai vợ chồng chả đáng là bao nhưng nhờ thu vén nên gã chồng ra đường vẫn sáng láng. Nhưng mà nào có như một cộng một bằng hai, còn bao nhiêu thứ phải tiêu chứ, chả lẽ ra đường gặp bạn uống ly cà phê "ngoài kế hoạch" cũng phải làm tờ trình trình thưa vợ, hay gặp đứa em ở quê kể bà con bị bão muốn móc túi cho mấy đồng lại cũng phải thì thào hạ giọng xin vợ... gã bèn nghĩ cách có quỹ đen. Việc kiếm thêm mỗi tháng dăm trăm đối với gã không khó lắm, nhưng vấn đề là... cất ở đâu?
Tưởng dễ thế nhưng lại vô cùng khó nhé. Cơ quan thì không yên tâm vì chả tin mấy cái tủ chưa đụng vào đã bật cửa. Sếp gã đấy, giấu ở két cơ quan, bị trộm vào nẫng, không khai với công an thì không được, mà khai thì... lộ, thế là ầm ĩ lên. Gấp tờ tiền làm 8 nhét vào góc sâu nhất của ví ư? quên đi nhé, dẫu vợ luôn nói rất tôn trọng chồng nhưng gã để ý ví lão luôn đút thẳng nhưng thi thoảng nó lại... nằm ngang trong túi. Đút vào đế giày ư? thì đã một lần con chó tự nhiên nó lôi ra trước mặt vợ làm lão ê cả mặt. Lần khác lão giắt lên trần nhà. Một hôm lão đi vắng, mưa dột, vợ kêu thợ đến sửa, về lão phải thanh minh gần chết rằng thằng bạn nó nhờ... giấu vợ nó chứ anh có tiền đâu mà giắt lên đấy, có đồng nào em giữ hộ hết rồi còn đâu?... Bây giờ thêm cái món trả lương và mọi thứ thu nhập qua ATM, quá bằng ngân hàng thông đồng với cánh... vợ để quản lý chồng!
Một gã khác, trưởng phòng cấp sở thì lại bị vợ cấm nhậu. Bây giờ công việc mà không nhậu thì làm sao mà hoàn thành nhiệm vụ trên giao, thế là lần lượt bố mẹ ông bà của bạn thứ tự được gã cho lên... bàn thờ. Hôm nay gã báo vợ là giỗ bố thằng A, mai mẹ thằng B, mốt vợ thằng C... một hôm vợ lão ngơ ngác: Ơ hôm qua em mới gặp bố anh A mà, cụ còn hỏi em sao lâu lắm không thấy vợ chồng mình đến chơi? Lần nữa vợ lão báo: Tháng này anh giỗ mẹ anh B 2 lần rồi nhé.
Đời này đàn ông không sợ vợ mới lạ. Bình đẳng rồi nhé, tôi cho con bú thì ông giặt đồ nhé, đừng có tí tởn nhá, cưỡng lại hả, nhẹ thì bạo hành như bao nhiêu vụ báo chí đã đăng, thậm chí là cắt, xẻo, nặng hơn thì "cúp" vài thứ, mặt cứ sưng lên, hoặc thút thít khóc, hoặc ra đầu ngõ nằm giãy đành đạch la làng la nước... Nào có sợ không? Có gã nhìn trước nhìn sau rồi nói thầm: Cọp còn sợ, beo còn sợ, huống gì... vợ.
Có bà còn cẩn thận tới mức, sắm hẳn một bộ đồ cắt tóc về cắt cho chồng. Tất cả mọi hành vi, thời gian của chồng đều đã kiểm soát được rồi, còn mỗi lúc cắt tóc. Chả lẽ lại chở chồng ra tiệm rồi ngồi đấy chờ, nhưng mà không thế, giờ mấy con mắt xanh mỏ đỏ nó kinh lắm, nghe nói nó đứng bên này ngoáy tai bên kia, rồi đứng giữa hai chân khách mà lại nặn mụn trên... trán. Rồi nó xoa tóc, nó gội đầu. Cứ nghĩ tới cái cảnh có bàn tay đứa con gái sờ vào chồng mình là sôi máu lên rồi, là muốn gầm gào rồi, là muốn lên huyết áp rồi. Thôi, cho chắc ăn, mỗi tháng một lần ông ngồi vào ghế tôi cắt cho ông, cũng tông đơ dao kéo, cũng ngoáy tai cạo mặt, cũng gội cũng nặn, mà nó lành nhá, lại không tốn tiền nhá, không mang ếch mang nhái về nhà nhá...
Tất nhiên là còn nhiều nỗi sợ, đàn ông bây giờ nhiều khi lại được mệnh danh là... phái yếu mà (chả yếu thì mạnh với ai khi vợ mới lừ mắt cái đã thun thút hiểu). Nhưng chỉ mới kể chưa hết nỗi sợ đầu tiên thì tôi đã... hết vía rồi, đã lên cơn sợ rồi, vì những điều trên tôi viết về người khác, nhưng lỡ vợ tôi đọc được, thị gầm lên: Ông đã xin tôi chưa mà viết, huhu...
Với lại, trước nỗi sợ... vợ, mọi nỗi sợ khác đều là muỗi, nên nhà cháu đành kết thúc bài viết "đàn ông sợ gì" ở đây, chỉ trách cái cô bé đặt bài, biết rồi mà còn bày đặt hỏi?
PQN(st)

CÁC ĐẤNG NAM NHI XEM THÊM:

 

 Hình ảnh do PQN cung cấp. (vtt)

»» xem thêm

RANH NGÔN

1. Người đẹp thì làm ta chú ý, còn người làm dáng thì… chú ý đến ta. 
2. 
Vợ ngày xưa thường “nâng khăn sửa túi” cho chồng. Vợ ngày nay thường “ngửi khăn lục túi” của chồng. 
3. “Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” nhưng nếu bạn cười với một cô gái trước mặt vợ mình thì nụ cười ấy lại là thuốc… đỏ. 

4. Người cho ta tiền là thầy ta, người cho ta mượn tiền là bạn bè ta, người lúc nào cũng muốn lấy tiền của ta ấy là vợ ta! 
5. Có tiền mua tiên cũng được, nhưng đừng mua một “tiên nữ”, vì như thế bạn sẽ không còn tiền. 

6. Theo luật Hôn nhân gia đình thì đàn ông (con trai) ít ra cũng được tự do 20 năm (trước khi cưới vợ). 

7. 
Nhậu nhiều thì vợ buồn, nhậu ít thì bạn bè buồn, còn không nhậu thì… mình buồn. 
8. Hôn nhân là nghệ thuật sống chung hai người mà vẫn hạnh phúc như khi sống một mình. 

9. Người ta thường dùng lửa để thử vàng, dùng vàng thử đàn bà, dùng đàn bà thử đàn ông và dùng đàn ông đi lấy lửa. 

10. Người đàn ông đầu tiên so sánh phụ nữ với một đóa hồng là một thi sĩ, còn người thứ hai so sánh như thế là một người thiếu… kinh nghiệm. 

11. Ðược tăng lương cũng giống như uống ly rượu, nó nâng tinh thần ta lên nhưng chỉ trong chốc lát thôi. 

12. Nếp nhăn… là cái mà chỉ người khác có. Còn bạn chỉ có những “đường cá tính” mà thôi. 

13. Lương tâm – đó là cái buộc ta phải kể với vợ tất cả mọi chuyện trước khi có ai đó mách. 

14. Hãy luôn nhớ rằng bạn là người độc đáo, cũng như… những người khác. 

15. Thời trang phụ nữ giống như hàng rào kẽm gai – bảo vệ dinh cơ nhưng không giới hạn tầm nhìn. 

16. Nếu người chồng im lặng trong gia đình, nghĩa là vợ anh ta có tài năng của một nhạc trưởng. 

17. Hôn nhân cũng giống như số "pi" trong toán học: tự nhiên, phi lý và rất quan trọng. 

18
. Nếu một phụ nữ không chịu lấy chồng, người ta bảo cô ta có tính độc lập cao. Còn nếu một người đàn ông không chịu lấy vợ, người ta bảo hắn ta không dám dấn thân. 
19. Phụ nữ luôn sẵn sàng tha thứ. Nhưng họ không bao giờ quên những gì họ đã tha thứ. 

20. Trong 24 tháng đầu tiên của cuộc đời một đứa trẻ, người ta dạy chúng đi và nói. 24 tháng tiếp theo, họ sẽ bảo chúng ngồi yên và câm miệng. 

21. Phụ nữ và các nhà dự báo thời tiết giống nhau ở chỗ họ thường chỉ thừa nhận mình đã lầm chứ không sai! 

22. Cô gái già là phụ nữ không thành công trong việc kiếm chồng, còn trai già là đàn ông thành công trong việc không lấy vợ. 
23. Ba giai đọan của một đời người: tin vào ông già Noel, không tin vào ông già Noel và làm ông già Noel. 

24. Ðàn ông tốt có ở khắp mọi nơi trên thế giới, trừ dưới mái nhà của vợ mình. 

25. Ðàn ông tha thứ rồi quên đi, còn đàn bà thì chỉ tha thứ. 

26. Tất cả đàn ông đều có lúc lầm lỗi, nhưng người đã có vợ bao giờ cũng nhận ra sai lầm của mình nhanh hơn.



PLN (ST)
»» xem thêm

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Bánh Chưng Tết



Dân tộc nào cũng có thức ăn truyền thống. Song chưa thấy dân tộc nào có một thức ăn vừa độc đáo, vừa ngon lành, vừa bổ, vừa gắn liền với truyền thuyết dân tộc lâu đời, lại vừa có nhiều ý nghĩa sâu xa về vũ trụ, nhân sinh như bánh chưng, bánh dầy của Việt Nam.

Bánh chưng hình vuông, màu xanh, tượng trưng trái Đất, âm. Bánh dầy hình tròn, màu trắng, tượng trưng Trời, dương, thể hiện triết lý Âm Dương, Dịch, Biện chứng Đông Phương nói chung và triết lý Vuông Tròn của Việt Nam nói riêng.

Bánh chưng âm giành cho Mẹ, bánh dầy dương giành cho Cha. Bánh chưng bánh dầy là thức ăn trang trọng, cao quí nhất để cúng Tổ tiên, thể hiện tấm lòng uống nước nhớ nguồn, nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục to lớn, bao la như trời đất của cha mẹ.

Theo truyền thuyết, bánh chưng bánh dầy có từ thời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi phá xong giặc Ân.Vua muốn truyền ngôi cho con, nhân dịp đầu xuân, mới hội các con mà bảo rằng: ”Con nào tìm được thức ngon lành để bày cỗ có ý nghĩa hay thì ta truyền ngôi cho”.

Các con trai đua nhau kiếm của con vật lạ, hy vọng được làm vua. Người con trai thứ mười tám của Hùng Vương thứ 6 là Lang Lèo (tên chữ gọi là Tiết Liêu), tính tình thuần hậu, chí hiếu, song vì mẹ mất sớm, không có người mẹ chỉ vẽ cho, nên rất lo lắng không biết làm sao, bỗng nằm mơ thấy Thần Đèn bảo: ”Vật trong trời đất không có gì quí bằng gạo, là thức ăn nuôi sống người. Nên lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, để tượng trưng Trời Đất. Lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột để tượng hình cha mẹ sinh thành”.

Lang Lèo (sau có người gọi Lang Liêu) tỉnh dậy, mừng rỡ làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp, đậu xanh thật tốt, thịt lợn (heo) ba rọi dày thật tươi.

Đến hẹn, các lang (con vua) đều đem cỗ tới, đủ cả sơn hào hải vị. Lang Lèo chỉ có bánh Dầy bánh Chưng. Vua lấy làm lạ hỏi, ông đem thần mộng tâu lên. Vua nếm bánh, thấy ngon, lại khen có ý nghĩa hay, bèn truyền ngôi cho Lang Lèo, tức đời vua Hùng Vương thứ 7.

Từ đó, cứ đến Têt nguyên đán hay các đám cưới, đám tang, dân gian bắt chước làm theo, sau thành tục lệ để cúng Tổ tiên, cúng Trời Đất.

Bánh chưng độc đáo, sáng tạo, đậm đà bản sắc dân tộc còn ở những vật liệu và cách gói, cách nấu. Lúa gạo thì tượng trưng cho nền văn hóa lúa nước, nhiệt đới, nóng và ẩm, được chế biến dưới nhiều hình thức khác nhau, mang tính đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam hay Đông Nam Á. Người Trung Hoa ưa chế biến từ bột mì hơn; người Ấn Độ thì ưa chế biến từ kê…

Thịt lợn hay heo được coi là lành nhất, nên các bệnh viện ngày nay thường chỉ sử dụng lọai thịt heo chứ không dùng thịt bò hay thịt gà là thức ăn chính cho bệnh nhân. Người Việt thích thịt luộc hay nấu. Đậu xanh vừa ngon lành vừa bổ dưỡng. Bánh chưng như thế rất nhiều chất, đặc trưng của các món ăn Việt Nam.

Độc đáo hơn nữa, khi nấu trong một thời gian khá dài thường trên 10 tiếng, phải để lửa râm râm, bánh mới ngon. Nấu bằng lò gas, tuy nhanh, nóng quá cũng sẽ không ngon. Vì được gói bằng lá dong, bánh chưng vừa xanh vừa đẹp, thơm hơn lá chuối. Phải gói thật kín, không cho nước vào trong, bánh mới ngon. Lạt phải buộc thật chật, chắc; gói lỏng tay, ăn không ngon. Song nếu chắc quá, bánh cũng không ngon.

Tuy gọi là luộc (người Việt Nam thích luộc, người Trung Quốc thích quay), song vì nước không tiếp xúc với vật liệu được luộc, nên lại là hình thức hấp hay chưng (chưng cách thủy), khiến giữ nguyên được chất ngọt của gạo, thịt, đậu!

Có lẽ vì cách chế biến bằng chưng, nên mới gọi là bánh chưng. Vì thời gian chưng lâu nên các hạt gạo mềm nhừ quyện lấy nhau, khác hẳn với xôi khi người ta “đồ”, khi hạt gạo nhừ quyện vào nhau như thế, người ta gọi bánh chưng “rền”. Vì nấu lâu như thế, các vật liệu như thịt (phải là thịt vừa nạc vừa mỡ mới ngon; chỉ thịt nạc, nhân bánh sẽ khô), gạo, đậu đều nhừ. Cũng vì thời gian chưng lâu, khiến các chất như thịt, gạo đậu nhừ, có đủ thời gian chan hòa, ngấm vào nhau, trở thành hương vị tổng hợp độc đáo, cũng mang một triết lý sống chan hòa, hòa đồng của dân tộc ta.

Cách chế biến như thế rất độc đáo, công phu. Bánh chưng nhất là bánh dầy có thể để lâu được. Khi ăn bánh chưng, người ta có thể chấm với các lọai mật hay với nước mắm thật ngon, giàu chất đạm; cũng có thể ăn thêm với củ hành muối, củ cải dầm hay dưa món… Dân Bắc Ninh xưa thích nấu bánh chưng, nhân vừa thịt vừa đường!

Bánh chưng, bánh dầy quả thật là một món ăn độc đáo có một không hai của dân tộc. Bánh chưng là một trong những bằng chứng cụ thể chứng tỏ văn hóa ẩm thực Việt Nam có nhiều tiềm năng khiến Việt Nam trở thành một cường quốc về văn hóa ẩm thực!

Đọc thêm:

Ngày Tết, bánh chưng xanh –câu đối đỏ, hai thứ không thể thiếu trong mỗi gia đình người Việt. Cái Tết sẽ kém thi vị, ý nghĩa khi mất đi, hoặc vắng một trong hai. Bánh chưng xanh –sản phẩm lâu đời của nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Nó bình dị thân thiết màu xanh tươi tắn như mạ non thì con gái chứa đựng nhiều lý thú.

Nếp ba tháng trắng phau, vo sạch để ráo nước. Từng hạt chắc mẩm, ánh lên bóng bẩy. Thịt heo đầy đủ phức hợp nạc –mỡ –da, cùng với đỗ (đậu) vàng bỏ vỏ làm nhân. Tất cả được đùm bọc lại bên ngoài bằng lá dong (hoặc lá chuối) có dây lạt mềm đen tuyền buộc chặt. Sản phẩm hoàn toàn từ nông nghiệp: trồng trọt và chăn nuôi.

Đơn giản như thế nhưng nó thể hiện tính tư duy sâu sắc của người xưa. Cắt chiếc bánh chưng, một tổng thể năm sắc màu hiện lên: vàng ngà hạt đỗ bùi bùi thoảng hương, đỏ thịt lợn chín, trắng ngần màu nếp, xanh lá dong và đen tuyền sợt lạt buộc bên ngoài. Từ trong ra ngoài, thể hiện triết lý: Âm dương, Tam tài và Ngũ hành.

Năm màu tượng trưng cho Ngũ hành trong triết lý phương Đông: Thủy (đen), Hỏa (đỏ), Mộc (xanh), Kim (trắng), Thổ (vàng). Ngũ hành tương sinh –tương khắc hài hòa, bổ trợ cho nhau trong tổng thể vuông vức. Màu vàng ứng với hành Thổ trong thế đất vuông nằm ở trung ương, tượng trưng cho con người rất quan trọng. Trong chiếc bánh chưng, hạt đỗ vàng được bao bọc chính giữa bánh, bên cạnh thịt lợn –thể hiện sự quan trọng này.

Bên cạnh hạt đỗ vàng là thịt lợn đỏ. Hai cặp phạm trù Âm dương hòa quyện lấy nhau (hạt đỗ –thịt lợn; động vật –thực vật; tĩnh –động), chúng bổ trợ cho nhau trong quá trình phát triển. (Trong đời sống thực vật và động vật đã có sự nương dựa vào nhau. Thực vật là nguồn sống của động vật, ngược lại, chất thải của động vật tạo năng lượng cho thực vật hấp thụ phát triển). Cùng bao bọc hạt đỗ –thịt lợn (âm –dương) là màu trắng của nếp. Nếp –hạt đỗ –thịt lợn (âm –dương –âm; thực vật –động vật –thực vật) tạo thành một Tam tài.

Tam tài với ba cặp phạm trù âm dương (nếp –thịt lợn, âm –dương), (hạt đỗ –thịt lợn, âm dương), (nếp –hạt đỗ, âm –dương, nếp được trồng dưới nước –đỗ trồng trên cạn, nước –đất, ướt –khô) đã hòa quyện và bổ trợ cho nhau trong tổng thể phức hợp. Và từ Âm dương, Tam tài đã phát triển lên Ngũ hành. Đó là lạm bàn bản chất của bánh chưng. Ngay cả quá trình luộc chín bánh cũng thể hiện triết lý Ngũ hành: Thủy, Hỏa, Mộc, Kim, Thổ.

Người ta dùng nước để luộc bánh, lửa được đốt từ củi và tất nhiên dùng nồi lớn (kim) đặt lên ba ông đầu rau (thổ). Cả năm thứ: nước, lửa, củi, nồi, ông đầu rau bổ trợ cho nhau, hài hòa bên nhau.

Xưa, nền kinh tế chính của ông cha ta không gì ngoài làm nông. Quanh năm làm bạn với nước, đất, giống và vô hình thiên nhiên, thời tiết đã đóng vai trò rất quan trọng. Hội làng mở ra cũng chỉ nhằm mục đích cầu trời phù hộ cho mưa thuận, gió hòa, mùa màng tươi tốt, làm ăn phát đạt. Triết lý Âm dương, Tam tài, Ngũ hành ra đời cũng không ngoài ý niệm trên.

Chỉ gói gọn trong chiếc bánh chưng xinh xắn kia là cả tư duy độc đáo, đáng khâm phục của ông cha. Nó đã thoát khỏi đơn thuần là vật chất, móm ăn bình thường trở thành đại diện chuyển tải tư tưởng triết lý sâu sắc đậm nét nông nghiệp lúa nước. Từ đây, cần nên gìn giữ phát huy cho xứng đáng với vị thế chiếc bánh chưng trong ngày tết.

Nguyễn Nhã
PQN(st)
»» xem thêm

Tết ông Táo

 

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, Táo quân có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp núc. Tuy vậy người dân vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo.

Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau:
Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin.

Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng.
Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo.
Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ.

Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân, gọi chung là: Định Phúc Táo Quân, nhưng mỗi người giữ một việc:

- Phạm Lang làm Thổ Công, trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân
- Trọng Cao làm Thổ Địa, trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần
- Thị Nhi làm Thổ Kỳ, trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần.

Truyền thuyết này thể hiện rất đậm nét trong sinh hoạt của người Việt. Trong bếp ngày xưa, thường có ba "ông đầu rau" - tức là ba hòn đất nặn dùng để kê nồi xanh đun bếp, trong đó hai hòn nhỏ hơn hòn thứ ba. Và nhân dân có tục lệ thờ "hai ông một bà", ngày 23 tháng Chạp hàng năm làm "lễ Táo quân", "Tết ông Công ông Táo", "tiễn ông Táo lên chầu Trời"... Đây rất có thể là ảnh hưởng của phong tục thờ thần lửa - một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc, tuy nhiên cách thể hiện ở mỗi nước một khác. Ví như ở Trung Quốc, từ thời cổ đại, Táo quân (còn được gọi là "Táo thần", "Táo vương", "ông Táo") đã được coi là một trong bảy vị thần đất được toàn dân cúng lễ. Nhưng nguồn gốc của Táo quân thì không nhất quán. Theo sách Hoài Nam Tử, Viêm Đế (tức Thần Nông) mang lửa đến cho dân nên khi chết được thờ làm thần bếp. Sách Lã Thị Xuân Thu lại coi Chúc Dung mới là thần quản lý lửa (do Viêm Đế mang tới) nên khi chết người dân thờ làm thần lửa. Còn sách Tây Dương tạp trở thì kể: thần lửa trông như một cô gái đẹp, tên là Ổi hay Trương Đan, tên chữ là Tử Quách, những ngày không trăng thường lên trời tâu về việc người nào có lỗi...

Chuyện truyền miệng của người Trung Quốc lại cho rằng trước kia mỗi tháng vua bếp lên trời một lần vào ngày tối (ngày cuối tháng âm lịch) để báo cáo về từng người trong mỗi gia đình (nhất là về những người đàn bà làm điều xấu); sau này, mỗi năm vua chỉ lên trời một lần vào ngày 23 hoặc 24 tháng Chạp. Đến ngày ấy, người Trung Quốc bày bàn thờ gần bếp, cúng vua bếp bằng thịt, cá, rượu nếp, bánh kẹo; đặc biệt có thêm cả nước và cỏ khô (cho ngựa của vua bếp "ăn" để bay và chở vua lên trời - khác với Táo quân của ta thì cưỡi cá chép lên trời).

Tại sao ông Táo lại cưỡi cá chép về trời? 

Phong tục của người Việt, ngày 23 tháng chạp, nhà nào cũng tiễn ông Táo lên chầu trời. Trên bàn thờ có ba chiếc mũ mới bằng giấy: một màu vàng ở giữa, hai màu đen ở hai bên - tức hai ông, một bà - không có cỗ mặn, chỉ cúng hương hoa, sau có 3 con cá chép đang bơi trong chậu thau. 3 con cá chép có ý nghĩa làm "ngựa" để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng mũ được đốt và cá chép được mang ra thả ở ao, hồ, sông...

Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.
Sớm ngày 23 Tết, các bà nội trợ của mỗi gia đình đã xách túi ra chợ chuẩn bị cho mâm cỗ cúng Táo quân. Một thứ không thể thiếu trong buổi đi chợ là cá chép.
Cá Chép Vàng hay còn gọi là (Cá Chép Tiên) là một loài động vật sống ở trên Thiên Đình, hồi trước sống trên trời, do phạm phải lỗi, nên bị Thượng Đế đày xuống trần gian để tu hành để chuộc lại tội lỗi của mình gây ra. Sau khi tu hành có chính quả, thì cá Chép sẽ hóa thân thành rồng và bay lên Trời. Còn Ông Táo là do Thượng Đế phái xuống trần tục để theo dõi loài người, xem ai là người Thiện, người Ác.

Sau đó Ông Táo bay về Thiên Đình để tâu lên Thượng Đế những việc ở dưới trần gian Nhưng mà muốn bay lên Trời, thì Ông Táo phải nhờ đến cá Chép mới lên được. 
PQN(st)
»» xem thêm